Ngày bia mộ được dựng lên, rất nhiều người trong làng vây quanh xem.
Mặt sau chỉ có tám chữ:
“Nông dân Lý Kiến Quốc, một đời trong sạch.”
Khi Tiểu Mãn đọc lên, giọng cô bé rất trong.
Chị nói:
“Cha sẽ thích.”
Tôi nói:
“Vâng.”
Mọi chuyện không kết thúc tại đó.
Bác cả bị kết án, Lục Hoài Nhân bị kết án, Trịnh Viễn Sơn và Chu Khải Minh cũng không thoát.
Sau khi tiền bồi thường được xác định lại, chị và tôi xử lý theo đúng thủ tục.
Phần thuộc về mình, tôi quyên góp để thành lập một quỹ hỗ trợ học sinh trong huyện, lấy tên cha.
Chị không phản đối.
Chị nói:
“Nếu cha biết tiền được dùng cho trẻ con đi học, ông sẽ vui.”
Sau khi được thả, Lý Diệu Tổ từng đến tìm tôi một lần.
Hắn đứng ngoài cửa nhà tôi, cúi đầu.
“Anh Trầm Chu, em sắp đi nơi khác làm thuê.”
“Ừ.”
“Trước đây em từng mắng anh, cũng từng cướp sách của anh.”
“Anh nhớ.”
Mặt hắn đỏ bừng.
“Xin lỗi.”
Tôi nhìn hắn.
“Cậu nên nói với cha tôi.”
Hắn quay người đi đến nghĩa địa.
Hôm đó hắn quỳ rất lâu.
Tôi không đi xem.
Một tháng sau, tôi chuẩn bị trở về căn cứ.
Chị giúp tôi thu xếp hành lý, nhét túi đậu đũa cuối cùng cha phơi vào trong.
“Đừng lại mười năm không về.”
“Không đâu.”
“Câu này em từng nói.”
Tôi nhìn giàn nho trong sân.
Khi còn sống cha từng nói đợi nho chín sẽ bảo tôi trở về ăn.
Tôi chưa từng kịp về.
Tôi nói:
“Năm nay nho chín, em sẽ về.”
Chị nhìn chằm chằm vào tôi.
“Nói là phải làm.”
Tôi gật đầu.
Khi xe đến đầu làng, Triệu Quý Sinh dẫn người trong làng đứng chờ.
Ông ta đưa tôi một chùm chìa khóa.
“Nhà cũ của gia đình cậu, làng đã sắp xếp người thay nhau trông. Cậu cứ yên tâm.”
“Không cần thay nhau. Chị tôi sẽ trở về ở.”
Chị tôi sững sờ.
Tôi nói:
“Em đã sang tên căn nhà cho chị.”
Mắt chị lại đỏ.
“Em làm gì vậy?”
“Nhà của cha mẹ phải có người ở.”
Chị mắng:
“Có phải em lại định chạy đi rất lâu không?”
“Em sẽ trở về.”
Chị siết chặt chùm chìa khóa.
“Lý Trầm Chu, nếu em nuốt lời, chị sẽ đến trước cổng căn cứ mắng em.”
Ông Từ đứng bên cạnh cười.
“Cô ấy thật sự có thể vào được.”
Tôi cũng cười.
Trước khi xe khởi động, Tiểu Mãn đuổi theo.
“Anh Trầm Chu, chờ đã.”
Cô bé đưa cho tôi một tờ giấy.
Đó là bài văn cô bé viết.
Đề bài mang tên:
“Người khiêng quan tài.”
Cô bé nói:
“Giáo viên bảo em viết về chuyện khó quên nhất bên cạnh mình. Em viết về chú Lý.”
Tôi nhận lấy.
Câu đầu tiên là:
“Sau khi chú Lý qua đời, cả làng không ai dám khiêng quan tài. Sau đó có rất nhiều người mà cháu chưa từng gặp đến.”
Tôi đọc xong rồi hỏi:
“Câu cuối em viết thế nào?”
Cô bé đọc thuộc lòng:
“Sau này cháu muốn trở thành một người dám khiêng quan tài. Bất kể người nằm trong quan tài là ai, chỉ cần người đó trong sạch, cháu sẽ không sợ.”
Tôi gấp bài văn lại.
“Viết rất hay.”
Cô bé cười.
Xe rời khỏi vịnh họ Lý.
Lần này ngoài đầu làng không có tiếng chế giễu, không có người chặn đường.
Có người vẫy tay, có người cúi đầu.
Bác gái đứng trước cửa nhà, nhìn thấy xe chạy đến thì lùi lại nửa bước.
Tôi không nhìn bà ta.
Tôi nhìn về phía ngọn núi.
Bia mộ của cha nằm cạnh cây bách, từ xa chỉ có thể nhìn thấy một chấm trắng.
Tôi biết cuối cùng ông cũng có thể yên ổn ngủ rồi.
Sau khi trở về căn cứ, tôi giao lại tấm huân chương cho phòng bảo quản.
Chủ nhiệm Cao hỏi:
“Không tiếc sao?”
Tôi nói:
“Nó nên ở đây.”
Sau khi đăng ký xong, bà đột nhiên hỏi:
“Bản sao lá thư của cha cậu có cần lưu trữ không?”
Tôi suy nghĩ một lúc.
“Lưu.”
“Tên hồ sơ viết là gì?”
“Thư nhà.”
Vài tháng sau, nho chín.
Tôi xin được ba ngày phép, trở về vịnh họ Lý.
Chị thật sự đã chuyển vào căn nhà cũ.
Giàn nho trong sân sai trĩu quả.
Chị hái một chùm, rửa sạch rồi đưa cho tôi.
“Ăn thử đi.”
Tôi ăn một quả.
Rất ngọt.
Chị hỏi:
“Ngọt không?”
“Ngọt.”
Chị ngẩng đầu nhìn giàn nho.
“Lúc trồng cha nói hồi nhỏ em chê nho chua. Sau này ghép giống xong chắc chắn sẽ ngọt.”
Tôi nói:
“Ông lừa em. Cây hồi nhỏ cũng ngọt. Chỉ là ông không nỡ ăn, đều để lại cho em.”
Chị đang cười thì nước mắt rơi xuống.
Ngoài cổng có người gõ cửa.
Ông Vương thợ mộc đứng bên ngoài.
“Minh Châu, Trầm Chu, nhà trưng bày lịch sử của làng đã sửa xong. Không phải từ đường dòng họ. Bên trong để lại một bức tường ghi tên những người có đóng góp cho làng. Cha hai đứa được ghi đầu tiên, hai đứa có muốn đến xem không?”
Chị nhìn tôi.
Tôi nói:
“Đi.”
Nhà trưng bày lịch sử làng nằm cạnh từ đường cũ.
Hương án của từ đường cũ đã bị dỡ bỏ, gia phả được cất vào tủ, không còn được dùng để áp chế người khác.
Trên bức tường mới, tên cha được viết ở dòng đầu tiên.
“Lý Kiến Quốc, sửa đường giúp học sinh, cần cù trong sạch.”
Bên dưới còn rất nhiều cái tên.
Ông Vương, mẹ Tiểu Mãn, Triệu Quý Sinh và chú ba.
Triệu Quý Sinh hơi ngượng ngùng.
“Tên tôi cũng xứng được viết sao?”
Tiểu Mãn nói:
“Giáo viên nói người từng phạm sai lầm nhưng sau đó sửa đổi cũng có thể được viết, nhưng phải viết rõ.”
Sau tên Triệu Quý Sinh ghi:
“Từng hèn nhát, sau đã đứng ra làm chứng.”
Triệu Quý Sinh cười khổ.
“Con bé này thật không nể mặt.”
Sau tên chú ba viết: