Nói với họ rằng, anh ta không chỉ giết Lý Tĩnh, mà còn bày ra một âm mưu kín kẽ không một kẽ hở, muốn để tôi làm vật thế tội?

Họ sẽ tin sao?

Hay sẽ cảm thấy, là tôi phát điên rồi, hoặc là tôi cố ý trả thù?

Đúng lúc này, một cô gái tên Tôn Na đột nhiên đăng một đoạn trong nhóm.

Tôn Na hồi đại học vốn đã không thích tôi lắm, cảm thấy tôi tính cách cô độc, không hòa đồng.

“Tôi thấy chuyện này rất kỳ lạ. Sao cứ khéo là máy ảnh của Từ Uyển Anh lại chụp được mấy thứ này? Sao cô ấy không báo cảnh sát sớm không báo cảnh sát muộn, lại cứ đúng vào đêm Chu Khải bọn họ ‘đi Tam Á’ mới báo? Hơn nữa tôi nghe nói, Từ Uyển Anh vẫn luôn… có phải là thầm thích Chu Khải không? Có khi nào vì yêu sinh hận, cố ý vu oan không?”

Đoạn nói này như một quả bom ném xuống mặt hồ yên tĩnh.

Trong nhóm im lặng vài giây, rồi tiếng nghi ngờ và suy đoán bắt đầu lan ra như virus.

“Tôn Na đừng nói bậy, Anh Anh không phải người như vậy.”

“Nhưng cô ấy nói cũng không phải không có lý, cả chuyện này đúng là quá trùng hợp.”

“Tình bạn mười năm, nói báo cảnh sát là báo cảnh sát, đến một cuộc điện thoại cũng không gọi trước để hỏi cho rõ sao? Cái này… đúng là có hơi vô tình rồi.”

Tôi nhìn những dòng chữ lạnh lẽo trên màn hình, chỉ thấy từng đợt lạnh buốt lan khắp người.

Đây chính là tình bạn mà tôi từng cho là như thế.

Trước biến cố quá lớn, trước những suy đoán ác ý, nó yếu ớt đến mức không chịu nổi một đòn.

Họ thà tin vào một thuyết âm mưu đầy lỗ hổng, còn hơn tin rằng Chu Khải quen thuộc trong mắt họ, chỉ là một chiếc mặt nạ giả dối.

Bởi vì thừa nhận Chu Khải là ác ma, chẳng khác nào thừa nhận chính họ đã mù suốt mười năm.

Còn hắt nước bẩn lên tôi thì đơn giản hơn nhiều.

Tôi tắt WeChat, ném điện thoại lên bàn.

Ngoài cửa sổ, mặt trời lặn về tây, nhuộm bầu trời thành một màu cam đỏ thê lương.

Tôi bỗng nhớ đến cha mẹ của Lý Tĩnh.

Sau khi án mạng xảy ra, cảnh sát chắc chắn đã thông báo cho họ.

Tôi không biết bây giờ họ thế nào rồi.

Là một trong những người bạn cuối cùng mà Lý Tĩnh từng tiếp xúc trước khi mất, tôi cảm thấy mình có trách nhiệm, cũng có nghĩa vụ, đi gặp họ một lần.

Tôi tra địa chỉ nhà Lý Tĩnh trên mạng, đó là một khu dân cư rất cũ.

Tôi mua một ít trái cây, trong tâm trạng thấp thỏm bất an, gõ cửa nhà cô ấy.

Người mở cửa là một người phụ nữ trung niên tóc bạc trắng, mặt mày tiều tụy, hẳn là mẹ của Lý Tĩnh.

Bà nhìn thấy tôi, đầu tiên sững ra một chút, sau đó trong mắt bà dâng lên nỗi bi thương khôn tả và… một tia hận ý.

“Cô tới làm gì?” Giọng bà khàn đặc và vô lực.

“Dì ơi, cháu… cháu là bạn của Lý Tĩnh, Từ Uyển Anh.” Tôi khó khăn mở miệng.

“Tôi đương nhiên biết cô là ai!” Cảm xúc của bà đột nhiên trở nên kích động, “Là cô! Nếu không phải cô cho cái thằng súc sinh đó mượn máy ảnh, con gái tôi đã không chết! Là cô hại chết nó!”

Bà vừa khóc vừa hét, vừa dùng nắm đấm đấm liên tiếp vào ngực tôi.

Tôi không né, cũng không đánh trả.

Tôi mặc cho bà trút hết bi thương và phẫn nộ lên mình.

Bởi tôi biết, thứ bà mất đi là con gái ruột của mình, còn tôi, chẳng qua chỉ mất đi một người bạn giả dối.

Nỗi đau của tôi, trước nỗi đau của bà, căn bản chẳng đáng là gì.

Một người đàn ông trông cũng già nua tiều tụy như vậy từ trong nhà đi ra, kéo bà lại.

“Ngọc Mai, đừng như thế, không liên quan đến cô ấy.”

Ông đỡ lấy vợ mình, rồi nhìn tôi bằng một nụ cười còn khó coi hơn cả khóc.

“Uyển Anh, xin lỗi, bà ấy… bà ấy chỉ quá đau lòng thôi. Vào trong ngồi đi.”

Tôi bước vào phòng khách nhỏ hẹp và tối tăm ấy, trong không khí phảng phất một mùi bi thương đến nghẹt thở.

Trên tường phòng khách treo ảnh của Lý Tĩnh.

Trong ảnh, cô ấy cười tươi như hoa, tràn đầy sức sống của tuổi trẻ.

Cha của Lý Tĩnh kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện về Lý Tĩnh và Chu Khải.