CHUWOGN 1-5: https://vivutruyen2.net/ca-lang-o-lai-toi-roi-di/chuong-1/
Quy định 2: Cấm chăn nuôi mọi loại gia súc, gia cầm trong khu bảo tồn.

Lý do: phân gia súc gây ô nhiễm nước và đất, phá hoại hệ sinh thái khảo cổ.

Toàn bộ lợn, gà, vịt, bò… đều phải được xử lý trong ba ngày. Quá hạn sẽ bị tiêu hủy bắt buộc.

Quy định 3: Cấm xây mới, mở rộng, hoặc cải tạo bất kỳ công trình nào.

Toàn bộ kiến trúc hiện có sẽ được quy vào diện “bảo tồn cảnh quan lịch sử”, không ai được phép đụng đến.

Tức là – mơ tưởng cải thiện chỗ ở, chấm dứt.

Còn những túp lều dân làng dựng lên để “chống đối”, bị quy là “công trình tạm trái phép”, phải dỡ bỏ trong 24 giờ.

Tôi đích thân dẫn đội an ninh và lực lượng thi hành, giám sát toàn bộ quá trình.

Chuồng lợn nhà chị Thúy – cái nơi duy nhất bà ta còn đặt hy vọng – là mục tiêu đầu tiên bị san bằng.

Mấy con lợn béo mập ấy, là tất cả vốn liếng bà ta.

Tiếng máy xúc gầm rú, đẩy đổ tường đất, chị Thúy lập tức sụp đổ.

Bà ta như hóa điên, lăn lộn trên mặt đất, chửi bới tổ tiên cả làng, gào khóc đến lạc giọng.

Nhưng lần này, không ai dung túng cho bà ta nữa.

Hai vệ sĩ cao lớn tiến lại, mặt lạnh như tiền, xách bà ta từ đất dậy, quẳng ra vệ đường như rác.

Dân làng muốn lên thành phố kiếm việc làm, nhưng tuyệt vọng phát hiện – sau một năm “đấu tranh” tai tiếng, làng họ Lý đã bị gắn mác xấu.

“Tặc dân”, “vô lại”, “chuyên đòi vạ” – những cái nhãn ấy dán chặt lên họ.

Không một nhà máy nào, không một công trường nào dám nhận họ.

Không ruộng để trồng, không vật nuôi để bán, lều cũng bị phá, không còn nơi trú thân.

Họ rơi vào đường cùng.

Cả làng chỉ còn sống nhờ vào phần cơm thừa canh cặn của đội khảo cổ bỏ lại sau mỗi bữa ăn.

Những kẻ từng hét đòi một tỷ, từng xem mình là thiên tử, giờ sống không bằng ăn mày.

Còn tôi, mỗi ngày lái chiếc Mercedes địa hình, cốp xe đầy ắp hoa quả, rau củ và thực phẩm hảo hạng, đúng giờ mang lên núi cho đội khảo cổ.

Mỗi lần đi ngang qua cổng làng, nhìn đám dân làng rách rưới, vàng vọt, đôi mắt chứa đầy ghen tị, sợ hãi và oán độc nhìn tôi.

Tôi đến kính xe cũng lười hạ xuống.

Có một hôm, Lý Kiến Quốc phát điên, lao ra chặn đầu xe tôi, quỳ gối xuống đất đá, lấy đầu đập từng nhát nặng nề xuống con đường lởm chởm sỏi.

“Bộp! Bộp! Bộp!” – âm thanh nặng nề vang lên.

Chẳng mấy chốc, trán ông ta đầy máu.

“Chu tổng! Tôi van anh! Xin anh thương tình cho chúng tôi một con đường sống! Chúng tôi thật sự biết sai rồi!”

Ông ta khóc đến nước mắt nước mũi hòa làm một, thấp hèn đến tột cùng.

Tôi từ tốn hạ cửa kính, đeo kính râm, lạnh lùng nhìn xuống ông ta.

Thấy khuôn mặt đầy máu và nếp nhăn ấy, tôi bỗng nhớ lại năm xưa, ngày đưa tang bà, ông ta đứng chắn cổng làng, vênh váo tự mãn, khinh người đến nhường nào.

Tôi khẽ cất giọng, bình thản nhưng vang vọng, từng chữ một lọt vào tai mọi người xung quanh:

“Đây chẳng phải chính là cuộc sống điền viên mà các người muốn sao?”

“Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ, không bị quấy nhiễu bởi thế giới ngoài kia.”

Tôi nở một nụ cười tàn nhẫn.

“Mãi mãi như thế.”

Nói rồi, tôi đóng kính xe, đạp ga phóng đi, để lại sau lưng ông ta một làn khói xe và sự tuyệt vọng đến tột cùng.

08.

Sau khi đã triệt hạ họ hoàn toàn về mặt vật chất, tôi bắt đầu chuẩn bị cú đánh cuối cùng—một đòn hủy diệt tinh thần.

Từ đường làng họ Lý chính là nơi Lý Kiến Quốc, cũng như tất cả những người mang họ Lý coi trọng nhất.

Đó là “cội rễ” của họ, là nguồn gốc của lòng tự hào và sự tự nhận ưu việt.

Cũng chính là nơi năm xưa họ viện cớ “khác họ” để đuổi bà tôi ra ngoài, khiến bà ôm hận đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

Rất tốt.

Vậy thì tôi sẽ bắt đầu ra tay từ cái “gốc” đó.

Tôi tìm đến Giáo sư Trần, lấy lý do “kiến trúc của từ đường có giá trị dân tục cần nghiên cứu”, “đề nghị” đưa nó vào diện bảo tồn và trùng tu cùng các công trình khảo cổ.

Giáo sư Trần vui vẻ đồng ý.

Tôi còn đặc biệt “hào phóng” tuyên bố rằng: toàn bộ chi phí trùng tu từ đường sẽ do quỹ văn hóa của tôi chi trả hoàn toàn.

Cái gọi là “trùng tu”, bước đầu tiên chính là “mời” toàn bộ gia phả họ Lý ra ngoài để tiến hành quét số hóa, lưu trữ chuyên nghiệp.

Tôi đeo găng tay trắng, trước mặt tất cả dân làng được phép đến xem, dưới sự hỗ trợ của đội khảo cổ, lật từng trang gia phả nặng trịch, vương mùi ẩm mốc ấy một cách chậm rãi và cẩn thận.

Dân làng, đặc biệt là Lý Kiến Quốc, trên mặt đều hiện lên vẻ hãnh diện tự hào.

Nhìn xem, lịch sử họ Lý của chúng ta được chuyên gia cấp quốc gia coi trọng đến vậy!

Tôi lật rất chậm, rất kỹ.

Cuối cùng, khi lật đến một trang cuối thời nhà Thanh, tôi dừng lại.

Trang đó ghi chép về cụ cố của Lý Kiến Quốc.

Tôi chỉ vào một dòng ghi chú viết bằng bút lông ở bên cạnh tên, nét chữ đã hơi mờ, ra vẻ “ngạc nhiên” nói với Giáo sư Trần:

“Giáo sư, ngài xem chỗ này, dường như ghi lại một chuyện khá thú vị.”

Giáo sư Trần cúi xuống, chỉnh kính lão, chăm chú đọc kỹ.

Chốc lát sau, ông đọc lên:

“Năm Canh Tý, thiên hạ loạn lạc. Có phu thê họ Thẩm, mang theo con nhỏ, chạy loạn từ phương Nam đến đây, gần như chết đói. Phụ thân ta nhân từ, thu nhận họ, còn cấp cho ba mẫu đất hoang ở phía Tây làng để họ an cư lập nghiệp. Tiếc thay, phu thê họ Thẩm bạc mệnh, chẳng bao lâu chết vì dịch bệnh, chỉ còn lại một đứa trẻ mồ côi. Phụ thân ta thương xót, nhận làm nghĩa tử, nuôi nấng như con ruột. Về sau, đứa trẻ họ Thẩm lớn lên, lấy vợ sinh con, cũng tính là đời sau nối dõi ở làng họ Lý.”