“Bắt hết cho ta!”

Lão thái thái nhìn cảnh này, hai mắt trợn trắng, sợ đến ngất xỉu.

Thẩm Uyển Nghiên được thả ra, mặt đầy dấu bàn tay, vừa khóc vừa hét:

“Ta vì muốn cứu tỷ tỷ nên mới thâm nhập hang hổ! Ta vô tội!”

Ta trợn trắng mắt:

“Thôi đi, có cần ta lặp lại lời vừa rồi nãi nãi của ngươi nói muốn bán ta đi làm thiếp thông phòng không?”

“Ta còn có thể học giống hệt cả cái giọng thiếu răng lọt gió của bà ấy đó.”

9

Sau khi hồi cung, Thẩm gia hoàn toàn gặp đại họa.

Tuy lão thái thái vì muốn bảo vệ Thẩm Uyển Nghiên nên một mình gánh hết tội danh, bị lưu đày ngàn dặm, nhưng thái độ của hoàng đế đối với Thẩm Uyển Nghiên đã lạnh đến cực điểm.

Thẩm Uyển Nghiên không cam lòng cứ thế thất sủng, quyết định đánh cược lần cuối.

Nghe nói gần đây hoàng đế tâm trạng phiền muộn, nàng ta tuyên bố bản thân trong mấy ngày chịu khổ đã ngộ ra tuyệt thế thi thiên, còn phổ ra khúc thần tiên có thể thanh lọc tâm hồn, mời hoàng đế đến Ngự hoa viên thưởng thức.

Hoàng đế vốn không muốn đi.

Nhưng ta đi.

Ta còn đặc biệt mời nhị ca và tam ca đến làm giám khảo.

Trong Ngự hoa viên, Thẩm Uyển Nghiên mặc một thân áo trắng, yếu mềm như liễu trước gió, đứng giữa khóm hoa, thâm tình ngâm thơ:

“Đầu giường ánh trăng rọi, ngỡ mặt đất phủ sương…”

Vừa đọc hai câu, nhị ca đang ngồi ở ghế giám khảo đã mặt không biểu cảm ngắt lời nàng ta:

“Dừng. Bài thơ này là ta tùy tay viết lúc ba tuổi đái dầm. Sau đó thấy quá dở nên ném đi rồi, sao ngươi biết được?”

Mặt Thẩm Uyển Nghiên cứng lại:

“Đây… đây là bổn cung linh cảm chợt lóe…”

Ta lập tức đứng dậy, học theo dáng vẻ thâm tình như cả đời chưa từng được ăn bữa ngon của nàng ta, dùng giọng còn làm màu hơn ngâm:

“Đầu giường ánh trăng soi, ướt quần một mảng rồi. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, cúi đầu giặt quần thôi.”

Toàn bộ thái giám cung nữ nhịn cười đến mặt đỏ bừng.

Nhị ca hài lòng gật đầu:

“Ừm, đây mới là bản gốc. Muội muội học không tệ, nắm được tinh túy.”

Thẩm Uyển Nghiên tức đến cả người run rẩy, nghiến răng nói:

“Là thần thiếp nhớ nhầm. Thần thiếp còn một khúc đàn, chính là tác phẩm dốc hết tâm huyết.”

Nàng ta ngồi xuống trước cổ cầm, bắt đầu đàn.

Tiếng đàn vừa vang lên, tam ca trực tiếp lấy hai cục bông nhét vào tai.

“Khúc này chỉ nên có dưới địa phủ, nhân gian khó được mấy lần nghe. Đây đâu phải đàn, rõ ràng là cưa gỗ.”

Hoàng đế xoa xoa thái dương.

Rõ ràng trước kia người cảm thấy khúc đàn của Thẩm Uyển Nghiên trong trẻo động lòng, hôm nay nghe lại thấy đâm thẳng vào óc.

Thẩm Uyển Nghiên biện giải:

“Là cây đàn này không tốt! Âm sắc cây đàn này không chuẩn!”

Ta cười:

“Đàn không tốt? Nào, đưa đàn cho ta.”

Ta bước tới, lấy từ trong tay áo ra một miếng vải, thong thả buộc lên mắt.

“Tam ca từng dạy ta, nhạc sư chân chính không dùng mắt nhìn, mà dùng tâm nghe. Nếu tâm đã mù, mở mắt cũng chỉ là đàn bừa.”

Hai tay ta đặt lên dây đàn, đầu ngón tay tung bay trên dây.

Một khúc Cao Sơn Lưu Thủy trút xuống, âm sắc trong trẻo, đoạn hào hùng như vạn mã lao nhanh, đoạn uyển chuyển như cầu nhỏ nước chảy.

Một khúc kết thúc, ta bình tĩnh tháo dải vải xuống.

Tam ca vỗ tay:

“Tuyệt diệu! Thuật nghe âm định vị khi bịt mắt đàn của muội muội đã có chín phần hỏa hầu của ta rồi!”

“Mạnh hơn một số kẻ mở mắt mà nói bừa nhiều!”

Thẩm Uyển Nghiên hoàn toàn sụp đổ. Nàng ta nhìn ánh mắt càng lúc càng chán ghét của hoàng đế, ác ý nổi lên.

“Giang Vân Sở! Ngươi đi chết đi!”

Nàng ta đột nhiên lấy từ trong tay áo ra một nắm bột độc, hung hăng hắt về phía ta.

“Cẩn thận!”

Hoàng đế kinh hô.

Nhưng ta không động.

Bởi vì nhị ca ta đã động.

Huynh ấy tuy là văn nhân, nhưng cây quạt trong tay lại là quạt sắt đại ca đặc chế cho huynh ấy.