“Bùi Kính Chi.”

Bà mở miệng, giọng bình tĩnh: “Ông còn nhớ mười lăm năm trước, ngày ta sinh Cảnh nhi xong ra tháng không?”

Bùi Hầu gia sững lại.

“Hôm đó ta cố ý bảo phòng bếp làm một bàn đồ ăn, muốn ăn một bữa cơm thật tử tế với ông. Ông đi đến cửa, nhìn ta một cái, nói một câu gì, ông còn nhớ không?”

Môi Bùi Hầu gia run rẩy, nói không nên lời.

“Ông nói, ta béo thành như vậy rồi còn ăn, không thấy mất mặt sao.”

Nước mắt của bà mẫu cuối cùng cũng chảy xuống, nhưng bà không lau.

Bà chỉ nhìn nam nhân trước mắt, nói từng chữ một: “Bùi Kính Chi, ta đã chịu đựng ông đủ lâu rồi.”

Cuối cùng, Bùi Hầu gia bị phán hoàn trả toàn bộ của hồi môn, đánh bốn mươi trượng, đi đày ba năm.

Liễu di nương là đồng phạm, bị bán khỏi phủ, đưa vào giáo phường.

Bùi Cảnh vì giúp cha hắn chiếm đoạt của hồi môn của mẫu thân, bị xóa tên khỏi gia phả, tước công danh, vĩnh viễn không được vào quan trường.

Ngày tuyên án, Liễu di nương khóc đến xé lòng, ôm cột nha môn không chịu đi.

Ta đi đến trước mặt bà ta, ngồi xổm xuống nhìn gương mặt khóc đến lem luốc ấy.

“Di nương.”

Ta cười híp mắt nói: “Chẳng phải người thích khoe eo nhỏ nhất sao?”

“Trong giáo phường, ai ai cũng là eo nhỏ một tay ôm trọn, người đến đó cũng coi như trở về quê cũ rồi.”

10

Sau khi mọi chuyện ngã ngũ, ta và bà mẫu dọn khỏi Hầu phủ, ở trong điền trang theo của hồi môn của bà.

Trên trang có một rừng đào. Khi hoa đào nở vào mùa xuân, ta sai người dựng một cái bếp đất bên rừng.

Hôm đó nướng dê nguyên con, quét năm lớp mật ong, ngoài cháy xém trong mềm mọng.

Bà mẫu ngồi bên bếp, nhìn hoa đào phía xa, ăn thịt dê, bỗng nói: “Ta muốn ăn món ba chỉ con nướng lần đầu tiên.”

Ta cười, gắp một miếng ba chỉ đang xèo xèo chảy mỡ từ đĩa bên cạnh, nhét vào miệng bà.

Bà nhai rồi nhai, trong mắt lại ánh lên nước mắt.

“Cả đời này, điều ta hối hận nhất không phải là gả sai người.”

Bà nhìn phương xa, giọng rất nhẹ: “Mà là đói suốt mười lăm năm, đến giờ mới phát hiện hóa ra cơm lại ngon đến vậy.”

Ta đưa một xiên ba chỉ vừa nướng xong vào tay bà, rắc thì là lên, lại rắc thêm một nắm ớt bột.

“Mẫu thân.”

Ta nói: “Sau này còn mấy chục năm nữa, bữa nào chúng ta cũng ăn thịt, bù lại hết những gì trước kia đã bạc đãi chính mình.”

Bà nhận lấy xiên thịt, cắn một miếng lớn, khóe miệng dính đầy thì là.

Ánh mặt trời xuyên qua hoa đào, rơi trên mặt bà, năm tháng yên bình.

Hai năm sau, ta mở một quán ăn trên trang, chuyên bán thịt nướng và lẩu.

Tất cả đều là món ta thích ăn trước khi xuyên qua, thơm đến mức không chịu nổi.

Các phu nhân tiểu thư trong kinh thành đổ xô đến, đều nói thịt nhà này thơm bay mười dặm, ăn rồi nghiện.

Bà mẫu là chưởng quầy của quán ăn. Bây giờ bà đã béo lên hai mươi cân, vẻ lạnh cứng trên mặt được thịt lấp đầy.

Khi cười, trên mặt có hai má lúm đồng tiền, nhìn còn trẻ hơn ta.

Hôm đó, trong quán có một nữ nhân đội nón che mặt đi vào, gầy trơ xương, đi đường lảo đảo.

Bà ta gọi một đĩa ba chỉ, nhưng một miếng cũng không ăn nổi, chỉ ngồi trong góc lén lau nước mắt.

Ta nhận ra bà ta là Liễu di nương.

Bà ta đã gầy đến biến dạng, gương mặt từng khiến Bùi Hầu gia mê mẩn đến thần hồn điên đảo, bây giờ già như vỏ quýt phơi khô.

Ta không đuổi bà ta đi, chỉ bảo tiểu nhị gói cho bà ta một phần ba chỉ, rắc gấp đôi thì là.

Bà ta đứng ở cửa quay đầu nhìn ta, môi mấp máy, dường như muốn nói gì đó.

Ta không nghe, xoay người trở về bếp sau.

Trên tấm sắt, một hàng ba chỉ đang xèo xèo chảy mỡ, hương thơm lan khắp nơi.

Ta cầm chổi phết, chấm mật ong rồi quét lên thịt, ngọn lửa bùng lên, hắt đỏ gương mặt ta.

Khói lửa nhân gian này, đúng là thơm chết đi được.