Trên đèn không phải chim muông hoa cá.

Mà là tên của chính các nàng.

Rất nhiều người sống nửa đời người, lần đầu tiên nâng cái tên của mình ở một nơi sáng tỏ đến thế.

Đi đi mãi, có người khóc.

Khóc khóc rồi, lại cười.

Ta dắt tay Thẩm Hành, đứng bên bờ dòng người ngắm nhìn.

Ta hỏi tỷ ấy:

“Tỷ tỷ, tỷ có hối hận không?”

“Hối hận năm xưa chu cấp cho Bùi Chiếu Dạ tập võ không?”

Thẩm Hành suy nghĩ rất lâu.

Sau đó kéo tay ta qua, chậm rãi viết vào lòng bàn tay ta.

“Không hối hận chuyện cứu người.”

“Chỉ hối hận nhìn người không rõ.”

“Thiện tâm phải có, nhưng mắt cũng phải sáng.”

Ta đem câu nói này ghi tạc cả một đời.

Sang xuân, ta xin phụ hoàng chuẩn tấu cho ta về huyện Thanh Hà một chuyến.

Ta dựng một tấm bia đá bên cạnh ngôi miếu hoang.

Trên bia không khắc tên Bùi Chiếu Dạ.

Kẻ như vậy, không xứng đáng lưu lại trên bia.

Ta chỉ khắc ba chữ.

Vô Danh bia.

Tưởng niệm những quân công bị mạo nhận, những tiền tử tuất bị nuốt chửng, những tiếng khóc bị đè nén.

Cũng tưởng niệm một tú nương suýt nữa bị một cái giả chết vây khốn đến chết.

Tỷ ấy dùng một đôi mắt thức đến hỏng đi, một đôi tay chi chít vết kim đâm, ôm ta từ trong nền tuyết lạnh về lại nhân gian.

Lại thắp lên ngọn đèn soi đường về nhà cho biết bao kẻ đang sống mà như đã chết khác.

Ngày dựng bia, huyện Thanh Hà cũng tổ chức hội đèn.

Các nữ tử của Quy Đăng tú phường đã tới, Lục Hành tới, Chiêu Ninh công chúa cũng tới.

Phụ hoàng phái người đưa tới tấm hoành phi ngự bút.

Gió thổi qua cây hòe già trước miếu hoang.

Thẩm Hành đứng trước bia, đôi mắt sau lớp lụa trắng không nhìn thấy ánh đèn nơi xa.

Nhưng ta biết, tỷ ấy nhất định sẽ cảm nhận được.

Bởi vì đêm đó, đèn khắp cả tòa thành đều vì tỷ ấy mà thắp sáng.

Tỷ ấy cúi đầu xoa xoa đỉnh đầu ta.

Sau đó, tỷ ấy mỉm cười.

Nụ cười ấy rất nhẹ.

Nhưng lại sáng hơn cả vạn ngọn đèn trên con phố dài kia.