Lão đại phu nhìn ta: “Trước đây có ai từng khuyên cô ngừng làm việc để tĩnh dưỡng không?”

Ta gật đầu.

Lang trung trên trấn từng khuyên hai lần, nhưng trong nhà đang túng thiếu ngân lượng, ta không nghe theo.

Về sau cơn ho đỡ hơn, ta liền ngỡ là đã khỏi hẳn.

Lão đại phu bảo người làm dẫn A Hành đi trị thương ở chân, A Hành không chịu.

Ta sờ sờ cổ tay áo đệ ấy: “Đi đi. Chân đệ lành rồi mới có thể đưa tỷ về nhà.”

Đệ ấy lúc này mới không yên tâm mà rời đi.

Rèm buông xuống, ta hỏi: “Có phải ta không khỏi được nữa rồi không?”

Đại phu cất gối bắt mạch, ngồi bên mép giường.

“Căn bệnh cũ trong phổi đã kéo dài quá sâu, lại thêm lao lực trường kỳ. Hôm nay đại bi đại nộ, vội vã đi bộ mấy chục dặm mới dẫn tới ho ra máu không ngừng.”

Ông dừng lại một chút: “Cô nương, lão phu không thể lừa gạt cô. Cho dù dùng thuốc, cũng chưa chắc cứu vãn được.”

“Ta còn bao lâu nữa?”

“Trước mắt khó nói chắc, nếu máu không cầm được, e là ngay cả mùa xuân này cũng khó mà qua khỏi.”

Nước trong ấm thuốc sôi ùng ục, trào ra khiến ngọn lửa trong lò kêu xèo xèo.

Ta cúi đầu nhìn bàn tay mình, vết mực chu sa nơi đầu ngón tay vẫn chưa rửa sạch, trong kẽ móng còn vương một vệt đỏ sẫm.

Ta cứ ngỡ rằng, gắng gượng qua cơn sóng gió này là sẽ ổn thôi.

Đợi Tiêu Ký Bạch lành vết thương thì không cần mời lang trung nữa.

Đợi A Hành lớn hơn một chút, nhận thêm mấy việc chép sách, chúng ta sẽ dành dụm tiền mở một quán rượu nhỏ.

Quán không cần lớn, trước cửa kê hai chiếc bàn, phía sau chừa một gian phòng.

Bài vị của phụ mẫu đặt ở nơi hướng sáng, mỗi dịp lễ tết, ta mua một con cá, A Hành viết câu đối mới.

Nhưng từng đồng tiền kiếm được đều có chỗ khẩn cấp hơn cần dùng tới.

Lão đại phu trải giấy kê đơn thuốc: “Trước hết cầm máu đã, đêm nay cứ ở lại đây, đừng cử động di dời.”

Ta nhớ tới chiếc hộp gấm đựng bạc trong tủ.

Số bạc đó đủ để A Hành chữa thương, đủ cho đệ ấy ăn học vài năm.

Bên ngoài tấm rèm, A Hành bỗng hít sâu một hơi nén đau.

Người làm nói: “Đau thì cứ kêu lên, không cần phải nhịn.”

Đệ đệ hạ thấp giọng: “Người nhẹ tay chút, tỷ tỷ ta sẽ nghe thấy.”

Ta nhắm nghiền mắt lại.

Những năm qua, ta sợ Tiêu Ký Bạch chết.

Sợ đến mức không dám ngủ, không dám ngừng việc, ngay cả một trận ho sốt cũng chẳng dám thật sự đau ốm.

Nay đến lượt mình, lại chỉ còn sót lại sự mỏi mệt rã rời.

Nước mắt ta chầm chậm chảy vào tóc mai, bất lực lắc đầu: “Không cần bốc thuốc đâu ạ.”

“Ta không chữa nữa.”

Động tĩnh ngoài rèm bỗng nhiên im bặt.

Một lát sau, A Hành tập tễnh bước vào, đệ ấy không gào khóc thảm thiết, chỉ túm lấy tay áo ta.

“Tỷ tỷ, đệ sợ.”

Ta muốn nói với đệ ấy rằng số bạc kia không thể tiêu tốn hết lên người ta, ngày tháng sau này của đệ ấy còn dài lắm.

Nhưng đệ ấy áp mặt vào bàn tay ta, bờ vai run rẩy đến mức chẳng thể thốt nên câu trọn vẹn.

“Cha mất rồi, nương cũng mất rồi.”

“Tỷ đừng bỏ rơi đệ.”

Ta nhìn lên đỉnh đầu đệ ấy.

Thuở nhỏ mẫu thân chải đầu cho đệ ấy, luôn chê chỗ này có hai cái xoáy tóc, chải thế nào cũng không vào nếp phẳng phiu.

Những năm qua, đệ ấy đã cao lớn hơn nhiều.

Nhưng chỗ đó vẫn vểnh lên một chút.

Ta đưa tay miết phẳng lại cho đệ ấy, không nói một lời.

Chúng ta ở lại y quán ba ngày.

Máu tạm thời cầm được, A Hành về trấn lấy bạc, kiên quyết bốc thuốc và thanh toán hết tiền khám chữa, rồi thuê xe đưa ta trở về.

Trước khi đi, đại phu giao phương thuốc cho đệ ấy, dặn dò chỉ được tĩnh dưỡng, tuyệt đối không thể lao lực thêm nữa.

Những ngày tháng sau đó, thuốc thang chưa từng đứt bữa.

A Hành ngày ngày trông coi ấm thuốc, ta cũng không làm việc nữa, nằm mỏi lưng thì nhích người ra cửa ngồi một lát.

Dưới chân tường viện đã mọc lên lớp cỏ non.

Giấy dán cửa sổ gian nhà củi rách mất một góc, bị gió thổi lay động kêu sột soạt khẽ khàng.

Ta nhìn mấy bận, luôn muốn bảo A Hành đi dán lại.

Lời đến khóe môi lại nuốt ngược vào trong.

Bên trong đã chẳng còn người ở nữa rồi.

Lúc A Hành chải đầu cho ta, lật tìm thấy nửa khúc trâm gãy kia.

“Còn giữ nó làm gì nữa?”

Ta bảo: “Cứ để đó đi.”

Chẳng phải lưu luyến không nỡ.

Chỉ là bao năm qua, những điều từng nghĩ, từng trông mong quá nhiều, thực sự muốn thu dọn từng thứ một, chung quy vẫn phải từ từ.

Ngày bệnh tình hơi thuyên giảm, ta mời thím Chu đến, kiểm kê lại bạc tiền.

Nợ ở phường rượu đã trả xong xuôi.

Tiền thuốc men, tiền học phí của A Hành, mỗi khoản giữ lại một phần.

Phần còn lại, ta nhờ thím Chu giữ giúp cho đệ ấy, đợi khi đệ ấy rời khỏi nơi này mới giao lại.

Chưởng quầy tiệm sách sẵn lòng viết thư tiến cử, để đệ ấy tới chỗ một người quen cũ ở Lâm Thủy làm người học việc.

Bao ăn ở, lại cho phép đệ ấy rảnh rỗi đọc sách.

A Hành không chịu.

“Đợi tỷ khỏe lại, chúng ta cùng đi.”

Ta ậm ừ nhận lời, đệ ấy liền hớn hở ra mặt, lấy tờ giấy cũ vẽ hình dáng gian tiệm.

Trước cửa hai chiếc bàn, phía sau một gian phòng.

Đệ ấy chừa một khoảng trống trên xà ngang cửa, bảo đợi đến Lâm Thủy sẽ tự tay đề biển hiệu.

Ta nhìn tờ giấy kia, không nỡ nói cho đệ ấy hay rằng căn phòng vẽ chật hẹp quá, kê thêm bếp lò vào thì giường ngủ sẽ chẳng còn chỗ đặt.