Chiếc chiêng đồng được treo lên trở lại.
Không chỉ có một chiếc ở đầu làng.
Đầu đông, đầu tây và bên cạnh kho lương, mỗi nơi đều treo thêm một chiếc.
Mỗi chiếc chiêng có ba sợi dây treo, dùi đánh chiêng được giấu ở hai nơi.
Nếu có kẻ cắt một sợi dây thì vẫn còn sợi thứ hai.
Đường dây điện thoại ở trụ sở đội sản xuất cũng được nối lại.
Đoạn dây nằm gần mặt đất được luồn qua ống tre, chôn xuống rãnh nông, phía trên chèn đá.
Phòng kế toán không còn cho phép một người ở lại trực một mình vào ban đêm.
Kho lương được bố trí dân quân thay phiên canh gác.
Ban đêm, cứ bốn hộ lập thành một nhóm tuần tra làng.
Hai người đi tuần trên đường làng, hai người canh chừng sườn núi phía bắc.
Tất cả chó trong làng đều phải được huấn luyện.
Không được ăn bánh ngô do người ngoài ném cho.
Không được ăn xương do người lạ đưa.
Tôi dùng nước cỏ đắng trộn vào bánh hấp để dạy chúng.
Cứ ăn một lần là bị vị đắng làm cho sặc một lần.
Đám chó tủi thân, kêu ư ử không ngừng.
Tôi cũng xót, nhưng vẫn phải cứng lòng.
Năm xưa, bà ngoại đã huấn luyện Đại Hoàng bằng cách ấy.
Và chính nó đã cứu mạng chúng tôi.
Phía sau mỗi nhà đều đào một hố trú ẩn.
Người già và trẻ nhỏ đều phải ghi nhớ đường lên núi.
Hang Giáp Bì cũng được dọn dẹp sạch sẽ, bên trong đặt sẵn củi khô, muối, diêm, thuốc cầm m/ áu và hai chum nước bằng sành.
Tôi dẫn phụ nữ và trẻ con đi đi lại lại trên các con đường ấy hết lần này đến lần khác.
Tảng đá nào không được giẫm lên sau cơn mưa.
Khe suối nào nước dâng nhanh.
Rừng trúc nào nhìn có vẻ rậm rạp nhưng thực ra phía sau lại có đường đi.
Nơi nào gió núi tạo ra tiếng vọng, chứng tỏ bên trong có hang rỗng.
Có người lén nói sau lưng rằng tôi đã bị dọa đến mất hết can đảm.
Cũng có người bảo ngày nào tôi cũng bày ra đủ thứ như vậy, cứ như đang mong bọn cướp núi quay lại.
Tôi đều nghe thấy.
Mãi đến một hôm, có người từ đội sản xuất bên cạnh sang chơi, trực tiếp cười nhạo tôi:
“Hướng Xuân, bây giờ Hắc Thủy Câu của các người lắm quy định thật đấy. Nửa đêm lại đánh chiêng, lại thổi còi. Nhỡ báo động nhầm thì không sợ bị người ta cười cho à?”
Lúc ấy, tôi đang dạy Tiểu Hạnh thổi còi đồng.
Nghe vậy, tôi ngẩng đầu nhìn người đó.
“Cứ để họ cười.”
Người kia sững ra.
Tôi nhìn về phía xa, chậm rãi nói:
“Thà để người ta cười vì nửa đêm cả làng nhốn nháo, còn hơn đợi đến sáng mà cả ngôi làng chẳng còn một tiếng động.”
Khoảng sân lập tức im phăng phắc.
Từ đó về sau, không còn ai lấy chuyện này ra chế giễu nữa.
Tiểu Mãn đã hết sốt, nhưng lại mắc chứng sợ sự im lặng.
Chỉ cần ban đêm quá yên tĩnh, con sẽ giật mình tỉnh giấc.
Có một lần, Đại Hoàng ngủ say nên không sủa.
Tiểu Mãn liền chân trần bò xuống khỏi giường đất, ôm chân tôi khóc nức nở.
“Mẹ ơi, sao chó không sủa?”
Tôi bế con lên.
“Chó ngủ rồi.”
“Có phải người xấu lại đến không mẹ?”
Tôi xoa đầu con.
“Biết sợ không phải chuyện xấu. Vì biết sợ nên chúng ta mới chịu lắng nghe.”
Tiểu Hạnh cũng có những nỗi sợ của riêng mình.
Con bé sợ tiếng đóng cửa.
Sợ đàn ông nói lớn.
Sợ mùi dầu hỏa từ chiếc đèn đổ xuống đất.
Nhưng dần dần, con bé cũng bắt đầu đến trường tiểu học của đội sản xuất.
Chu Đại Dũng dạy con bé viết tên mình.
Con bé nắn nót từng nét chữ:
Lâm Tiểu Hạnh.
Viết xong, nó nhìn cái tên ấy rất lâu.
Sau đó khẽ nói:
“Cái tên này giống như một khởi đầu mới vậy.”
Hốc mắt tôi nóng lên.
“Sau này, cuộc sống của cháu cũng sẽ hoàn toàn mới.”
Nhưng tôi biết, có những chuyện cũ sẽ mãi không biến mất.
Tôi vẫn thường mơ thấy Lâm Hướng Thu.
Mơ thấy nó đứng phía sau ngọn đèn dầu, lạnh lùng hỏi tôi:
“Lâm Hướng Xuân, chị có thể đừng xen vào chuyện của tôi nữa được không?”
Lần nào tôi cũng không biết phải trả lời thế nào.
Chương 10
10
Nửa năm sau, ngôi làng cuối cùng cũng náo nhiệt trở lại.
Nước suối mùa xuân dâng cao, tiếng ếch nhái dưới khe vang lên từng hồi nối tiếp nhau.
Trong chuồng bò, những con bò thong thả nhai cỏ.
Đàn gà trên giàn đập cánh phành phạch.
Chiếc cối đá nhà thím Vương kêu cót két.
Loa phát thanh của đội sản xuất đã được sửa xong. Mỗi sáng, nó lại phát ra hai tiếng rè rè trước khi bắt đầu đọc thông báo của xã.
Hôm nay nhà nào lên núi trồng cây.
Ngày mai nhà nào đi sửa kênh mương.
Tối nay những hộ nào đến lượt tuần tra sườn núi phía bắc.
Trường tiểu học của đội sản xuất cũng mở cửa trở lại.
Bọn trẻ đeo cặp vải bạt, chạy dọc đường làng, vừa chạy vừa đọc bài.
Tiểu Mãn và Tiểu Hạnh đi cùng nhau.
Tiểu Mãn nhát gan, cứ nắm chặt vạt áo Tiểu Hạnh.
Tiểu Hạnh cao hơn thằng bé một chút, trong tay ôm sách vở, lưng đứng thẳng tắp.
Con bé vẫn gầy.
Nhưng trong mắt đã có ánh sáng.
Chu Đại Dũng chống gậy đứng trước cửa lớp học, mỉm cười nhìn hai đứa trẻ bước vào.
Chân anh vẫn chưa khỏi hẳn, cứ đến ngày mưa hoặc trời âm u là lại đau nhức.
Nhưng anh nói, chỉ cần được đứng trên bục giảng, nghe bọn trẻ đọc bài thì đã là những ngày tháng tốt đẹp rồi.
Chân trước của Đại Hoàng cũng hơi khập khiễng.
Ngày cắn Lão Sẹo, nó bị dao cứa trúng một nhát.
Thế nhưng, ngày nào nó cũng nằm trước cửa sau, đôi tai liên tục động đậy.